Cách nghĩ của con người thường bị chi phối bởi sự cân đong sòng phẳng: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. Khi áp dụng thứ luận lý sòng phẳng ấy vào đời sống tâm linh, người ta dễ tưởng rằng mình có thể dùng công đức, đạo hạnh hay thời gian tu tập để “đổi lấy” ơn cứu độ, như thể Thiên Chúa phải trả công tương xứng với những công lao người ta đã bỏ ra cho Ngài.
- Tình thương của Thiên Chúa lớn hơn lòng dạ con người
Chính trong bối cảnh ấy, lời sấm của Tiên tri Isaia vang lên như một tiếng sét đánh vỡ mọi chuẩn mực phàm trần: “Vì tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta, Chúa phán như vậy. Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thế ấy” (Is 55, 8-9).
Khoảng cách giữa trời cao vời vợi và bụi đất thấp hèn không chỉ là sự siêu việt về quyền năng, mà là vực sâu thăm thẳm giữa lòng quảng đại vô biên của Đấng Tạo Hóa và sự hẹp hòi, ti tiện của thụ tạo. Thiên Chúa không nhìn theo vẻ bề ngoài, không tính toán theo bảng chấm công của trần thế. Lời mời gọi của Isaia: “Hãy tìm Chúa khi còn tìm được… kẻ gian ác hãy bỏ đường lối mình, và kẻ bất lương hãy bỏ những tư tưởng mình” (Is 55, 6-7) là một lời khẩn thiết giục giã con người bước ra khỏi cái khung chật hẹp của lý lẽ trần gian để bước vào không gian bao la của lòng thương xót Chúa.
Thánh Augustinô, khi chiêm ngắm khoảng cách mầu nhiệm này giữa Thiên Chúa và con người, đã từng thốt lên: “Si enim comprehendis, non est Deus”, đại ý là “Nếu bạn hiểu thấu được Thiên Chúa, thì đó không phải là Ngài.” [1] Thiên Chúa luôn luôn lớn hơn những định nghĩa, lớn hơn những toan tính và vượt xa mọi tiêu chuẩn công lý cứng nhắc của lòng dạ con người.
Dụ ngôn thợ làm vườn nho (Mt 20, 1-16) là minh họa sống động cho tư tưởng vượt trội của Thiên Chúa. Chủ nhà ra chợ thuê thợ từ sáng sớm với giá một đồng. Lạ lùng thay, ông tiếp tục trở lại lúc 9 giờ, 12 giờ, 3 giờ và cả 5 giờ chiều khi ngày sắp tàn. Nhìn thấy những kẻ còn đứng trơ trọi, bơ vơ, ông hỏi: “Sao các ngươi đứng nhưng không ở đây suốt ngày như thế?”. Câu trả lời của họ chất chứa nỗi cay đắng của những phận đời bị gạt ra bên lề: “Vì không có ai thuê chúng tôi” (Mt 20, 6-7). Ông liền sai họ vào vườn. Họ không lười biếng nhưng thất vọng chờ đợi tìm được việc làm suốt ngày dưới nắng gió. Là những kẻ yếu thế, thiếu kỹ năng và bị đời bỏ mặc, họ bị coi là vô dụng. Nhưng chủ vườn lại nhìn họ bằng lòng xót thương của một người cha: chiều tối rồi, con cái họ sẽ ra sao nếu cha chúng về tay trắng?
Kịch tính nổ ra khi trả công: kẻ làm một giờ được lãnh trước trọn vẹn một đồng, còn nhóm làm từ sáng sớm cũng chỉ nhận bấy nhiêu. Họ liền bất bình vì chịu nắng nôi suốt ngày mà bị tính ngang hàng với người đến sau: “Những người đến sau hết chỉ làm có một giờ… mà ông kể họ bằng chúng tôi sao?” (Mt 20, 12). Theo lý lẽ người đời, họ khiếu nại không sai sau cả ngày đổ mồ hôi. Nhưng chủ nhà ôn tồn đáp: “Này bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu… Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng?” (Mt 20, 13-15).
Ông chủ không hề bất công với người đến sớm; ông giữ trọn thỏa thuận đã cam kết. Có điều ông đã vượt lên trên sự công bằng theo lẽ thường để thực thi sự nhân lành tuyệt đối. “Tội” của ông chủ, nếu có, chính là tội… quá tốt lành! Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã phân tích sâu sắc về sự đảo lộn giá trị này: “Thiên Chúa luôn rộng lượng trong cách đối xử với chúng ta. Nước Trời sẽ đến với chúng ta không phải như một phần thưởng cho những việc làm tốt lành của chúng ta, dựa trên một thứ công bằng nghiêm ngặt, nhưng như một ân sủng, một món quà của lòng thương xót và tình yêu bao la của Thiên Chúa” (Kinh Truyền Tin từ dinh Castel Gandolfo, Chủ nhật, ngày 21 tháng 9 năm 2008).
- Bệnh mắt ganh tị và ảo tưởng về công trạng
Câu hỏi nhức nhối của ông chủ: “Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng?” lột trần những khoảng tăm tối nơi cội rễ tâm can con người. Trong nguyên bản tiếng Hy Lạp, cụm từ này là “οφθαλμός πονηρός – ophthalmos ponēros” là một cụm từ tiếng Hy Lạp cổ, có nghĩa là “con mắt xấu xa” hoặc “ánh mắt độc ác”. Trong bối cảnh văn hóa và tôn giáo, đặc biệt là trong Kinh Thánh Tân Ước, cụm từ này mô tả một người có cái nhìn đố kỵ, ganh ghét với sự thành công hoặc tài sản của người khác. Con mắt ấy không nhìn thấy ân huệ mình đã lãnh nhận, mà chỉ dán chặt vào phần phúc của tha nhân để so đo, ganh tị và hiềm khích.
Bi kịch của nhóm thợ đến sớm không phải bị bớt lương, nhưng là bị bóp nghẹt bởi thói ganh tị thay vì có được niềm vui khi nhận tiền công. Thay vì mừng rỡ vì kiếm được một đồng nuôi sống gia đình, họ lại đâm cay đắng khi thấy kẻ làm ít cũng nhận phần tương tự, rồi xem lòng tốt của chủ như sự xúc phạm đến công lao của mình. Họ chính là hình ảnh giới Pharisêu và luật sĩ: cậy thâm niên giữ luật nên sinh ra đố kị khi thấy Chúa Giêsu đồng bàn, cứu độ những kẻ tội lỗi, những người chỉ mới bước vào “vườn nho” Nước Trời vào “giờ thứ mười một”.
Nhưng dụ ngôn không chỉ cảnh báo người đến sớm vì ganh tị, mà còn nhắc người chậm trễ hoán cải vì ỷ lại vào lòng thương xót của Chúa. Lời cảnh báo của Thánh Augustinô thật nghiêm khắc: “Hãy đến khi được gọi. Vì tất cả mọi người đều được hứa trả công như nhau; nhưng về giờ làm việc cụ thể thì lại rất không chắc chắn. Nếu những người trẻ tuổi, khi được gọi, nói rằng, “Chờ đã, chúng tôi nghe nói rằng tất cả sẽ nhận được một phần thưởng như nhau; vậy chúng tôi sẽ đến vào giờ thứ mười một, khi chúng tôi về già, tại sao chúng tôi lại phải làm việc nhiều hơn!” thì câu trả lời sẽ là, “Các ngươi không muốn làm việc sao, hỡi những người không biết mình có sống đến giờ thứ bảy hay không?…Hãy cẩn thận, kẻo đến lúc Ngài trả công cho các ngươi, các ngươi lại đã tự bỏ mất cơ may vì chậm trễ.” [2]
Khi chúng ta phục vụ Chúa với tâm thức của một người làm thuê đòi nợ, chúng ta biến tôn giáo thành một hợp đồng thương mại lạnh lùng. Nhưng Thiên Chúa không phải là một viên kế toán cầm sổ nợ. Ngài là một Người Cha giàu lòng thương xót, Đấng luôn mở rộng cửa nhà để đón đứa con hoang đàng, dù nó lê lết về nhà chỉ sau khi đã phung phí hết gia tài.
- “Sống là Chúa Kitô” là lời giải cho nghịch lý tự hiến
Làm sao để giải thoát tâm hồn khỏi căn bệnh so đo, tị hiềm và toan tính công trạng? Thánh Phaolô Tông đồ đã đưa ra câu trả lời bằng chính cuộc đời và lẽ sống của ngài: “Vì đối với tôi, sống là Chúa Kitô, còn chết là một mối lợi. Nhưng nếu sống trong xác thịt này đem lại cho tôi kết quả trong việc làm, thì tôi không biết phải chọn đàng nào. Tôi đang lúng túng trong hai điều này: là ước ao chết để được ở với chúa Kitô thì tốt hơn bội phần, nhưng cứ ở lại trong xác thịt thì cần thiết cho anh em” (Pl 1, 21-24).
Khi viết những dòng này, thánh Phaolô đang chịu xiềng xích và đối diện án tử hình, nhưng không hề than trách hay đòi Chúa trả công. Với ngài, Chúa Kitô không phải là chủ thuê mướn, mà là sự sống và cùng đích duy nhất. Khi đạt tới mức độ “Sống là Chúa Kitô”, mọi toan tính công lênh đều trở nên vô nghĩa. Được gọi vào vườn nho, dù sớm hay muộn, đã là một đặc ân. Thánh Phaolô hoàn toàn tự do trước sự sống và cái chết, sẵn sàng ở lại chịu nhọc nhằn vì ích lợi của anh em. Đó là đỉnh cao của việc từ bỏ cái tôi để hiệp thông với tình yêu Chúa Kitô.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã giải thích sâu sắc về nghịch lý này: “Chúa Giêsu không muốn nói về vấn đề công việc hay tiền lương công bằng, mà là về Nước Trời! Không có người thất nghiệp trong Nước Trời. Mọi người đều được kêu gọi làm phần việc của mình; và cuối cùng sẽ có phần thưởng từ sự công bằng của Thiên Chúa, không phải từ sự công bằng của con người, thật may mắn! Đó là ơn cứu độ mà Chúa Giêsu Kitô đã giành được cho chúng ta bằng cái chết và sự Phục Sinh của Ngài, một ơn cứu độ không phải do xứng đáng mà là do được ban tặng, miễn phí” (Kinh truyền tin, ngày 24 tháng 9 năm 2017).
- Đón nhận ân huệ và bước vào vườn nho tình yêu
Lời kết dụ ngôn vang vọng như quy luật bất biến của Nước Trời: “Kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết” (Mt 20,16). Ai cậy công đức mà kiêu căng, xét đoán sẽ tự loại mình; còn người khiêm tốn, cậy trông vào lòng thương xót Chúa lại được nâng lên trong trái tim Đấng Nhân Lành.
Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã sống trọn vẹn tinh thần của người thợ giờ thứ mười một: “Lúc cuộc đời xế bóng, con sẽ đến trước mặt Chúa với đôi bàn tay trắng, vì, lạy Chúa, con không xin Chúa đếm các việc con làm. Mọi sự công chính của chúng con đều mang tì vết trước mắt Chúa. Vì vậy, con muốn được mặc lấy sự công chính của chính Chúa và đón nhận từ tình yêu Chúa phần sở hữu muôn đời là chính Chúa…” (GLHTCG, số 2011).
Lời Chúa hôm nay chất vấn: ta nhìn anh chị em bằng ánh mắt nào, so đo, tị hiềm trước may mắn của tha nhân, hay cảm thông và vui mừng trước ơn Chúa ban? Ta có đang đòi Chúa trả công, thay vì khiêm hạ nhận ra mọi sự đều là ân sủng? Dù đời ta đã lãng phí hay đang ở “giờ thứ mười một”, Chúa vẫn tha thiết gọi: “Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta”.
Hãy can đảm bước vào vườn nho, trút bỏ tị hiềm và so đo để nhìn mọi người bằng ánh mắt nhân từ của Chúa. Khi thấu hiểu “sống là Chúa Kitô”, như Thánh Phaolô, ta sẽ nhận ra rằng được ở trong ân sủng và cùng Ngài phục vụ tha nhân đã là phần phúc lớn lao nhất, vượt xa mọi giá trị trần thế.
Phêrô Phạm Văn Trung
[2] https://prydain.wordpress.com/2014/02/22/augustine-of-hippo-on-the-laborers-in-the-vineyard/